1. BẤT THỐI TÂM
Thuở xưa có một
người, tuy không được ai giáo hóa cho, nhưng vì đụng chạm trong đời, bị chuyện
thế sự dầy vò, chuyện thị phi nhân ngã làm cho khốn đốn quá nhiều nên vô cùng
phiền não và đâm có những suy nghĩ như sau: một con người trầm luân trong cõi
trần lao này, cuối cùng được cái gì ? Trong vũ trụ mênh mông con người bé nhỏ
li ti chỉ như một hạt cát của sông Hằng, thế mà suốt ngày tâm trí chỉ dùng
trong việc tranh đoạt hoặc lừa gạt dối trá bên ngoài, đến giờ phút cuối cùng
của cuộc đời mang theo được gì ? Một đời người như thế, thử hỏi có ý nghĩa nào
không ?
Ông lại nghĩ đến
đời sống của người tu, đó là những người làm việc vì chúng sinh, đời sống như
thế thì cao cả biết bao! Những người tu ít nhất không bị thế sự trần lao làm
cho khốn đốn phiền não, hơn nữa, họ còn có thể đắc được thánh quả của sự giải
thoát trong tương lai. Nghĩ đến đây, ông rời bỏ gia đình đi tu làm sa môn.
Vị sa môn này từ
sáng sớm đến chiều tối chăm chỉ tu học, không phút nào dám giải đãi. Chỉ cần
nhớ lại đời sống của ông lúc trước và cái quả vị thánh mà ông nhắm đến trong
tương lai cũng đủ thôi thúc ông chuyên cần học đạo.
Nhưng năm này sang
tháng khác đã trôi qua mà ông vẫn chưa chứng đắc được quả vị nào, không lẽ công
phu sâu dày như thế mà vẫn không đúng đạo hay sao ? Ông càng nghĩ càng lo sợ,
hẳn là mình đã lầm đường lạc lối hay đang bị ma phá ? Ôi ! Chẳng thà trở về nhà
làm kiếp phàm phu cho rồi, cần gì phải tu hành khổ sở như thế này!
Ông lấy quyết định
sửa soạn bỏ về nhà rồi bỗng lại do dự. Sự thành công hay thất bại có khi được
định đoạt chỉ trong một niệm: bỏ đi thì mấy năm cần khổ học đạo vừa qua coi như
đổ xuống sống xuống biển, hy vọng ngộ đạo coi như mất vĩnh viễn ; còn nếu lấy
lại tinh thần để tiếp tục con đường tu hành, biết đâu có thể thành tựu một ngày
nào đó chăng ?
Trong lúc những ý
nghĩ nên đi hay nên ở như thế đang quay cuồng trong đầu ông, thì có một vị thần
cây trong núi thấy thế cảm thấy xúc động, vì trong kiếp trước đã từng có nhân
duyên với ông. Thần cây rất lo lắng cho ông, biết rằng nếu ông trở về thì sẽ vĩnh
viễn trôi nổi trong biển rộng sinh tử.
Thần cây bèn dùng
chút thần thông thử thách, biết đâu xoay chuyển được ý chí của ông và giúp cho
ông thành tựu đạo nghiệp ? Thần cây bèn hóa thành một vị tỳ kheo ni xinh đẹp,
ăn mặc diêm dúa, đeo đầy nữ trang châu báu, ưỡn ẹo làm dáng đến trước mặt vị sa
môn.
Vị sa môn thấy thế
không chịu được, bèn nghiêm sắc mặt lại mà mắng rằng:
- Cô là tỳ kheo ni,
là người xuất gia học đạo, tại sao lại mặc quần áo của người thế tục ? Tại sao
lại làm bộ làm tịch để làm quáng mắt người khác ?
Hóa nhân tỳ kheo ni
trả lời:
- Chuyện ấy có quan
hệ gì ? Quần áo, nữ trang chỉ là huyễn hóa, phấn son chỉ là mầu sắc, thì có gì
đáng tham luyến đâu ? Tất cả đều là giả tướng, chính thân của ông bộ cũng không
đồng một thể hay sao ? Trước mắt thì thấy có tuổi thanh xuân, có sức khỏe dồi
dào, nhưng một khi vô thường đến, đất nước lửa gió phân tán rồi, thì chủ của
thân ấy ở đâu ? Vô tướng, thật tướng, chân như vốn bất sinh bất diệt, biết rõ
các pháp bổn lai là như thế thì chứng đạo có chi là khó khăn ?
Một con người sống
trên thế giới này giống như mặt trăng trên trời vậy: một mình một bóng, đến một
mình và đi cũng một mình, trên thân đến không mang một thứ gì và cũng sẽ không
một thứ gì trên thân mà đi, không có vật chi thuộc về mình một cách chân thật.
Chúng sinh ngu si,
trong những hoàn cảnh hư huyễn không thật mà sinh tham luyến, mê say đến nỗi tự
ràng buộc mình vào đó. Không phải cảnh giới mê hoặc con người, mà chính là con
người tự đắm chìm vào cảnh giới ; không phải phiền não trói buộc con người mà
chính là con người tự đi tìm phiền não để cột ràng mình vào. Vì mê lầm mà tham
ái cảnh vật hư huyễn không thật nên suốt một đời sống như mộng, như say, như
si, mà còn ngày đêm oán trời hận người. Họ không hiểu cái khổ không phải là cái
gì tự có, mà là do ác nghiệp của chính họ chiêu cảm đến.
Chúng sinh thật
đáng thương. Họ ngẫu nhiên tạo được vài nhân thiện, chiêu cảm được vài phúc
báo, thế là dương dương tự đắc mà không hiểu rằng phúc báo cũng chỉ là giả tạm.
Một khi nếm cái mùi giả tướng của thế gian rồi tham luyến nó, thì sẽ thấy cái
vui sướng rất khó mà đi theo thân mình mãi mãi, ngược lại cái tai họa thì như
bóng theo hình, một giây một khắc cũng không rời. Muốn cầu cái vui sướng tự tại
vĩnh viễn thì phải liễu ngộ vấn đề sinh tử, phải vĩnh lìa tham dục và tạo tác.
Trong tam giới, dĩ
nhiên cũng có những vị được rất nhiều phúc báo ở cõi trời, nhưng những vị này
rồi cũng có lúc hưởng hết phúc và phải bị đọa lạc. Pháp Phật có nói: người ở
trong gia đình như ngồi trong lao tù, mà cái tầng trời cao nhất của ba cõi cũng
chỉ như lao tù. Chỉ có cái học vô lậu mà chư Phật và chư bồ tát đã tu học, tức
là quán chiếu cái tướng "không" của chư pháp, và dừng bỏ cái thấy
lệch lạc là có sự sai biệt giữa ta và người, mới là cái cảnh giới thường hằng
an vui cứu cánh.
Hóa nhân tỳ kheo ni
nói thao thao bất tuyệt một hồi, như một thùng nước sạch dội lên tâm trí của vị
sa môn. Ông suy xét kỹ lưỡng ý nghĩa của từng câu nói mới nghe. Ðúng thế, cái
giả tướng vốn do tứ đại hòa hợp, chúng sinh vì quá ư say đắm cái giả tướng này
mà tự hại lấy mình.
Khi giác ngộ được
rằng pháp tính vốn là không, con người sống ở trên thế giới này như một du
khách đi qua xứ khác chơi, thì nhìn chúng sinh trong mười phương thật sự không
thể nói được là có thân có sơ.
Vị sa môn nhờ thế mà
tâm hồn trở nên cởi mở, xả bỏ hết mọi quái ngại. Ý nguyện ban đầu kiên cố trở
lại, ông chăm chỉ tu học và về sau đắc được đại tự tại.
2. BÀ LÃO BỘC
Trưởng giả Tu Ðạt
tại thành Xá Vệ nước Ấn Ðộ là một vị "đại thí giả", hễ có người nghèo
khổ bần cùng đến cầu xin ông cứu giúp, ông liền làm cho người ấy được toại ý.
Nhất là đối với Tam Bảo thì ông lại càng cung kính tôn thờ, thường thường cúng
dường Đức Phật và chư tăng.
Trong nhà ông
trưởng giả Tu Ðạt có một bà lão bộc làm công, rất trung thành với chủ và làm
việc rất siêng năng, nên được trưởng giả một lòng tín nhiệm. Chìa khóa nhà kho,
vựa lúa đều do một tay bà nắm giữ.
Bà lão bộc này tính
nết rất keo kiết, mỗi khi thấy chủ nhân lấy từ kho ra bao nhiêu là tiền bạc của
cải để bố thí cho người là trong lòng bà không khỏi cảm thấy tiếc rẻ.
Nhưng điều làm cho
bà bất mãn hơn cả là lúc bà thấy Đức Phật và chư vị đệ tử đến nhà trưởng lão
thọ cúng dường. Bà thấy lúc đó trưởng giả vô cùng nhiệt thành, hoan hỉ nghênh
tiếp và cúng dường Đức Phật. Tâm ganh tị như thiêu như đốt khiến bà ghét Đức
Phật thậm tệ. Có một hôm bà còn lập ác nguyện rằng:
- Tôi vĩnh viễn
không muốn thấy mặt Phật, không muốn nghe ông ta thuyết pháp cũng không muốn
thấy mặt mấy ông tỳ kheo.